Nguyễn Đình Chiểu – nhìn từ thế kỷ XXI -2

Share Button

Nguyễn Đình Chiểu – nhìn từ thế kỷ XXI (kỳ 2)
11/09/2020 – 07:20

BDK – Với hơn 300 hội viên thuộc 8 phân hội của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre được nhận định đang có số lượng đội ngũ văn nghệ sĩ (VNS) khá hùng hậu, thành quả sáng tạo nghệ thuật cũng có nhiều khởi sắc. Để thêm nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, phục vụ cho cộng đồng, mang những thông điệp tích cực để mọi người sống tốt hơn là điều VNS đang hướng đến trong năm mới.

» Nguyễn Đình Chiểu – nhìn từ thế kỷ XXI

Bìa sách Lục Vân Tiên bằng tiếng Nhật. Ảnh: P. H

Bìa sách Lục Vân Tiên bằng tiếng Nhật. Ảnh: P. H

Nguyễn Đình Chiểu – nhà tư tưởng

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu có vị trí danh dự. Ông là người đánh dấu quá trình chuyển biến của Nho học Việt Nam ở Gia Định theo hướng đô thị hóa, Việt hóa và bình dân hóa.

Trong Lục Vân Tiên, chúng ta thấy có một nhân vật khá đặc biệt, đó là ông Quán. Ông Quán là một người làu thông kinh sử, ngao ngán con đường công danh, nhưng ông lại không lui về ẩn dật theo con đường quen thuộc của các nhà Nho – ẩn sĩ ngày xưa: làm ngư làm tiều, mà ông lại mở quán bán hàng, tức là làm thương mại. Nhà Nho truyền thống thường coi khinh buôn bán, trong tứ dân thì thương nhân đứng ở nấc thang cuối cùng (sĩ, nông, công, thương), triều đình cũng thi hành chính sách “trọng nông ức thương”. Thế mà nhà nho của Nguyễn Đình Chiểu, nho thì rất nho, đạo đức thì rất mực đạo đức, nhưng cũng biết đến cả kinh doanh. Nếu xu hướng ông Quán này được tiếp tục phát triển thì ông có khác gì các nhà Nho duy tân đầu thế kỷ XX: Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trọng Lội, Hồ Tá Bang… và xa hơn nữa là các nhà Nho thành thị của Trung Quốc và Nhật Bản.

Lẽ ghét thương của ông Quán là rạch ròi, những người mà ông yêu mến là các nhà Nho, thế nhưng yêu mến một danh sách dài nhiều nhà Nho từ Khổng Tử, Nhan Uyên, Đổng Trọng Thư, Khổng Minh, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, thì tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu dường như đã vượt qua tư tưởng Tống Nho chính thống. Điều này tương hợp với việc ông rất đề cao Trương Tái, trịnh trọng đưa Tây Minh của Trương Tái lên ngay trong câu mở đầu truyện Lục Vân Tiên. Như chúng ta đã biết, Trương Tái là người chủ trương tư tưởng “Khí nhất nguyên luận”, có tính cách duy vật và cách mạng, vì vậy, người ta thường đánh giá ông tiến bộ hơn nhóm Lý học đời Tống: Chu Đôn Di, Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di.

Nho giáo của Nguyễn Đình Chiểu đang trên quá trình Việt hóa – bình dân hóa một cách sâu sắc. Dưới đây là một số ví dụ:

Chữ trung, đức mục hàng đầu của nhà Nho, được Việt hóa thành khái niệm “ngay” (ngay ngắn, ngay thẳng): Nghĩa tình nặng cả hai bên/ Nếu ngay cùng chúa lại quên ơn chàng (câu 1415, 1416).

Lòng chung thủy, trung thành của người phụ nữ với chồng cũng được gọi là “ngay”: Vân Tiên anh hỡi có hay/ Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng (câu 1497, 1498).

Chữ hiếu, đức mục đứng sau chữ trung được Việt hóa thành khái niệm “thảo”:

– Làm trai ơn nước nợ nhà/ Thảo cha ngay chúa mới là tài danh (câu 1765, 1766).

– Quan Âm thương đấng thảo ngay/ Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa (câu 1523, 1524).

Tìm hiểu chi tiết hơn, chúng ta có thể thấy nhiều khái niệm khác nữa, như: “ngũ thường” thành “năm hằng”, “chính khí” thành “hơi chính”… Thực ra, quá trình Việt hóa Nho giáo đã diễn ra ngay từ những ngày đầu Nho giáo du nhập vào nước ta, nhưng đến thế kỷ XIX, khi Nho giáo đã hết sức sống ở những vùng đất cũ thì quá trình ấy ngưng lại. Những khái niệm hàng đầu của Nho giáo như trung hiếu, người ta không Việt hóa thêm nữa. Thế nhưng với các nhà Nho Nam Bộ, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu, quá trình ấy vẫn đang tiếp tục. Điều ấy cho thấy, Nho giáo ở Nam Bộ, vì nhiều lý do, vẫn còn sức sống. Khi trung thành ngay, hiếu thành thảo, thì những thói ngu trung, hiếu một cách mù quáng không còn nữa. Sự thay đổi khái niệm này thành khái niệm khác, không phải chỉ là vấn đề thay đổi ngôn từ, mà nội hàm của những khái niệm đó cũng thay đổi.

Những vấn đề tư tưởng nói ở trên cho thấy, Nho giáo của Nguyễn Đình Chiểu không hề già cỗi, khô khan, chết cứng. Điều ấy cũng thể hiện một cách sinh động qua hệ thống hình tượng các nhân vật trong truyện.

Với sự đột phá về tư tưởng yêu nước thân dân đã phân tích ở mục 2, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là nhà thơ hàng đầu trong phong trào “phi thực dân hóa” của các nước Á Phi.

Vượt qua nghịch cảnh để giúp dân

Nguyễn Đình Chiểu là nhà giáo có uy tín cao, thường được dân Lục tỉnh gọi là “cụ Đồ” với thái độ kính trọng mà thân thương. Nguyễn Đình Chiểu ba lần chuyển cư: Ở quê mẹ huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là Quận 1, TP. Hồ Chí Minh), ở quê vợ huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định (nay là huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An); ở làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Ở cả ba nơi ông đều lựa chọn nghề thầy giáo. Vì thế học trò của ông rải khắp Sài Gòn, Cần Giuộc, Ba Tri. Bà Mai Huỳnh Hoa, hậu duệ của cụ cho biết: Học trò cụ Đồ ước có hai trăm người, ngồi ra hai hàng tả hữu nghe giảng. Tiên sinh mắt đã mù, không còn xem sách được, nhưng mỗi bữa hỏi học trò tới đoạn nào, thì tiên sinh giảng đoạn ấy, như ngó thấy sách, vì tiên sinh thuộc lòng các sách.

Nguyễn Đình Chiểu là người thầy thuốc lớn, một người thầy thuốc thương dân, có trách nhiệm. Ông rất đề cao y đức. Trong Lục Vân Tiên, ông từng gay gắt lên án bọn lang băm hám lợi, hại người. Sách Ngư Tiều y thuật vấn đáp của ông là cuốn cẩm nang, sách giáo khoa về nghề y, đương thời rất được các thầy thuốc ưa chuộng, họ sao chép, sử dụng rất nhiều. Không chỉ là người thầy thuốc giỏi nghề, có lương tâm, Nguyễn Đình Chiểu còn là một người trí thức luôn gắn số phận mình với đất nước và nhân dân. Hình tượng Kỳ Nhân Sư trong Ngư tiều y thuật vấn đáp thể hiện điều ấy: Nước mất, Kỳ Nhân Sư bỏ vào núi vì không muốn làm người trí thức vong thân; buồn đau và bất lực, ông đã dùng chính hiểu biết về nghề thuốc của mình xông mù đôi mắt để khỏi thấy cảnh đất nước điêu linh. Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng của người trí thức, cuộc đời và sáng tác của ông, lời nói của ông và việc làm của ông thống nhất làm một.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn tiêu biểu nhất của đất Nam Bộ và cũng là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm Lục Vân Tiên của ông được nhân dân Nam Bộ yêu thích, truyền tụng rộng rãi nhất, còn trong phạm vi cả nước thì nó là tác phẩm thứ hai sau Truyện Kiều. Từ Lục Vân Tiên mà có cả một “trường văn hóa Lục Vân Tiên” với những “thơ hậu Vân Tiên”, “nói thơ Vân Tiên” và các loại hình văn hóa, nghệ thuật khác. Sức sống, sức lan tỏa ấy có thể sánh với những Tam quốc, Thủy hử, Hồng lâu mộng… đối với Trung Quốc, Truyện Genji đối với Nhật Bản, truyện Xuân Hương đối với Hàn Quốc.

Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng xếp ngang hàng với những tác giả lớn của văn học châu Á như: Khuất Nguyên, Tả Khâu Minh, Bạch Cư Dị của Trung Quốc; Matsuo Basho, Kyokutei Bakin của Nhật Bản, tác giả Xuân Hương truyện của Hàn Quốc… mà UNESCO đã từng vinh danh.

PGS.TS. Đoàn Lê Giang – Trường ĐH KHXH&NV-ĐHQG-HCM
http://baodongkhoi.vn/nguyen-dinh-chieu-nhin-tu-the-ky-xxi-ky-2–11092020-a77748.html

Share Button

Tin đề cử

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *